Trang chủ Vấn đề & Dư luận Noi theo Các Mác, Lê nin, Hồ Chí minh, chúng ta hẫy vượt qua chính mình
Noi theo Các Mác, Lê nin, Hồ Chí minh, chúng ta hẫy vượt qua chính mình PDF. In Email
Vũ Duy Phú   
Chủ nhật, 16 Tháng 5 2010 15:30

Kỳ 2:
1. Chủ nghĩa xã hội không phải là một bộ phận sinh ra từ CN Mác, hoặc “CN Mác –Lê”. CNXH đích thực sẽ nhất định thắng lợi.

Lâu nay tôi cứ tưởng (chết ở chỗ cứ tưởng đó) Chủ nghĩa xã hội là sản phẩm chính trị của riêng Mác, Ănghen, và Lênin, vì vậy nghiễm nhiên tin rằng nó đương nhiên là giai đoạn đầu của CN Cộng sản. Nhưng thực ra đó lại là một sự hiểu lầm hoàn toàn. Do đã đồng nhất CNXH với “CN Mác – Lê”, nên khi người ta căm hận về những biện pháp tàn bạo, cay nghiệt của CM vô sản quá tả đã diễn ra ở chỗ này chỗ kia dưới danh nghĩa CN CS, nên người ta cũng căm ghét lây luôn cả sang CNXH !

Theo nhận thức mới thì tư duy về môt chủ nghĩa, mà sau này dần dần hình thành chính thức, được nhiều triết gia cổ điển (không thật rõ chính xác là ai đầu tiên) đặt tên là CNXH, nó đã có từ hàng ngàn năm trước đây, từ khi Mác chưa ra đời (*). Theo đó CNXH là một lý tưởng tốt đẹp của chung toàn Nhân loại, một ước muốn tốt đẹp về một xã hội cộng đồng, mang đầy đủ đặc điểm của một xã hội dân chủ, công bằng, tự do, hạnh phúc, văn minh của cả Loài người (Đối nghịch lại với CN cá nhân, với CN dân tộc hẹp hòi, ích kỷ). CNXH là kết quả một quá trình tiến hoá tự trưởng thành của toàn Nhân loại. Quá trình này là lâu dài, gian khổ, có lúc rộ lên, có khi xẹp xuống, tích luỹ, đúc kết từ những bài học thắng lợi, rút kinh nghiệm từ những nguyên nhân thất bại đổ máu của rất nhiều nước, của rất nhiều thế hệ . . kéo dài từ rất lâu, từ trước khi có Mác !

Khi gặp Chủ nghĩa Mác ( mới xuất hiện gần 165 năm trước đây), những người theo CNXH đã lấy CN Mác làm lý luận dẫn đường. Nếu Chủ nghĩa Mác có 2 phân kỳ tiến hoá khác nhau như đã nói ở trên, thì CNXH cũng bị ảnh hưởng bởi sự diễn biến và trưởng thành của CN Mác với 2 phân kỳ như đã xẩy ra. Vì vậy đã xẩy ra chuyên có mô hình XHCN theo những biện pháp quá tả, bạo lực (Phân kỳ I ) và có cả mô hình XHCN theo đường lối đấu tranh phi bạo lực như Mác đưa ra ở phân kỳ II.
 Đối với Lênin: Nhận thấy tại Nga, thời cuối thế kỷ 19, đã đủ chín mùi để giai cấp công nhân có thể lật đổ chế độ Nga hoàng lạc hậu, phản tiến bộ - một mắt xích yếu nhất của hệ thổng TBCN – Lênin đã vận dụng Mác ở phân kỳ I (Quốc tế CS I ) và đã thành công trong đấu tranh bạo lực đập tan chế độ quân chủ Nga hoàng dành chính quyền về tay giai cấp công nhân và lập nên chế độ xô viết. Lênin đã hoàn thành phân kỳ I của chính Ông một cách tuyệt vời. Và chính Lênin đã thành lập lại Quốc tế Cộng sản, và gọi là Quốc tế Cộng sản III (thêm trở lại tính ngữ cộng sản) về cơ bản là theo đường lối đấu tranh bạo lực của QT CS I. Nhưng vì lòng căm thù của giai cấp công nhân (đối với g/c tư sản) chỉ có sức mạnh chủ yếu trong tàn phá, chứ chưa đủ để kịp sản sinh ra sự sáng tạo trong xây dựng hoà bình, nên chỉ sau mấy năm chính quyền xô viết, chính Lênin đã phát hiện ra những chỗ bất cập, sai lầm của đường lối Quốc tế CS I : phá tan những cái cũ, không tiếp thu, không thừa kế thành tựu nhiều mặt của CNTB (vi phạm quy luật tính liên tục, kế thừa của quá trình tiến hoá), và không chỉ có thế. . . nên nguy cơ tụt hậu và có thể sẽ tự diệt vong là rất rõ ràng. Bởi vậy, cũng tự vượt qua chính mình, Lênin đã nhanh chóng chuyển sang phân kỳ 2 của chính Ông với chính sách kinh tế mới: kế thừa, hợp tác, liên kết, vận dụng các thành tựu nhiều mặt của CNTB để xây dựng CNXH. Theo cách hiểu của chúng ta sau này: Người CS muốn đi lên bằng cách đi trên vai của những nhà tư bản, vậy phải dựa vào và liên kết thật lòng với họ, không thể đơn giản coi họ là kẻ thù giai cấp không đội trời chung ! (Lênin từng nói, đại ý: Tôi có thể đổi 100 đảng viên CS thiếu chuyên môn lấy 1 chuyên gia tư bản)
 Đối với Liên Xô (cũ): Để phân tích đúng CNXH ở LX cũ trong thời kỳ sau Lênin cho tới khi nó sụp đổ, cần lưu ý những đặc điểm lịch sử riêng biệt (có tính tình thế): vừa xây dựng hoà bình, vừa chuẩn bị và tiến hành chiến tranh (cả nóng lẫn lạnh), vì vậy yêu cầu lãnh đạo tập trung về cơ bản đã lấn át hoàn toàn yêu cầu dân chủ, cùng với sai lầm về cơ chế quản lý kinh tế - xã hội theo đường lối Quốc tế I và III tập trung quan liêu bao cấp, nên đã dẫn đến tụt hậu, suy thoái toàn diện và sụp đổ như một tất yếu (mấy chục triệu đảng viên không phản ứng gì đáng kể - không nuối tiếc - khi LX tan rã)

Sự bất đồng chính kiến trong phong trào Cộng sản Quốc tế chính là và chủ yếu là sự bất đồng chung quanh câu chuyện lựa chọn Quốc tế nào, chọn biện pháp cách mạng nào, và sai đúng ra sao, chứ không phải là chọn Ông lãnh tụ nào, bởi vì cả 2 tổ chức Quốc tế I và Quốc tế II đều là “con đẻ” của Mác và Ănghen ; Quốc tế III và Chính sách kinh tế mới cũng đều là con đẻ của Lênin cả. Chỉ có điều chúng (các đường lối đấu tranh giai cấp) rất khác nhau là do chúng được sinh ra ở những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau, và có thể nói đại thể là chúng đều đúng, nhưng chỉ đúng trong những hoàn cảnh và thời điểm tương ứng thích hợp của chúng ! . CNXH hiện thực ở các  nước được sinh ra, nơi thì theo đường lối Quốc tế I, nơi lại theo đường lối Quốc tế II, vì thế mà chúng có các mô hình cụ thể khác nhau. Mô hình XHCN hiện thực trên đất Liên Xô, Đông Âu, TQ và VN . . . ở thế kỷ 20 là theo mô hình được tạo ra theo đường lối Quốc tế I của Mác, Quốc tế III của Lênin, dưói sự chỉ đạo áp đặt của Stalin, và nó đã sai lầm, bởi thực tế nó đã sụp đổ. Nguyên nhân: Trong xây dựng hoà bình mà LX vẫn tiếp tục vận dụng đường lối Quốc tế CS I và III là không phù hợp. Nếu LX sau Thế chiến 2 đã biết “chuyển pha” sang vận dụng chủ yếu đường lối Quốc tế II thì đã không bị tan rã. Chính sách “kinh tế mới” của Lênin, đường lối “ba đại diện” của TQ, và đường lối  “Đổi mới” của VN hiện nay chính là theo đường lối Quốc tế II của Mác với một số đặc thù riêng khác nhau. Thực tiễn (là chân lý) đã chỉ ra rằng, chúng phù hợp với yêu cầu cách mạng ở những nơi này, và cũng chỉ vào giai đoạn này. Kết luận: Đường lối Quốc tế II  của Mác và Ănghen về CM vô sản, bất kể giai cấp công nhân đã giành được chính quyền hay chưa, là hiện thực và hoàn toàn đúng đắn trong thế kỷ XX .

 Vậy là, qua kinh nghiêm và thể nghiệm của Lênin và Liên Xô (cũ), của TQ và VN, ta có thể kết luận:
1/ Để lật đổ chế độ cũ đã thôí nát, lạc hậu, giành chính quyền, bảo vệ chính quyền, bảo vệ đất nước . . .thì vận dụng biện pháp cách mạng bạo lực của Mác (Quốc tế CS I ), và của Lênin (Quốc tế CS III) như Liên xô cũ, như Việt nam và Trung quốc, và nhiều nước khác . . . khi họ đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền là đúng đắn. Tuy nhiên,chính quyền chuyên chính vô sản, tập trung trước– dân chủ sau, theo các cơ chế hoạt động kiểu LX cũ, chỉ phù hơp và có sức mạnh thực sự trong đấu tranh bạo lực giành và bảo vệ chính quyền, và sẽ không phù hợp và thiếu sức mạnh trong xây dựng và phát triển hoà bình, vì chính quyền theo thể chế này không có khả năng tự bảo vệ mình khỏi quá trình tự thoái hoá, và cũng bất lực trong khả năng sáng tạo tự hoàn thiện mình để vươn lên (sư sụp đổ của LX cũ là kết quả điển hình nhất của sai sót mang tính tất yếu này).

2/ Vì vậy tại các nước tư bản phát triển, và tại các nước khác khi đã chuyển sang giai đoạn xây dựng hoà bình thì phải vận dụng đường lối Quốc tế II của Mác mới đem lại thắng lợi cho CNXH. Chính “Chính sách kinh tế mới” của Lênin, Đường lối “đổi mới” của Việt nam và  đường lối  “Ba đại diện”của Trung quốc là kết quả sự vận dụng sáng tạo đường lối của Quốc tế II của Mác và Ănghen, nên đã thu được những thắng lợi bước đầu. Các đảng cánh tả Bắc Âu, và ở một số nước khác, tại một số thời kỳ tương tự ở nhiều nước tư bản phát triển, do đặc thù của họ, đã không vận dụng đường lối đấu tranh bạo lực của quốc tế I, đã sớm tiếp thu, vận dụng tư tưởng đường lối mới của Mác ở phân kỳ II (Quốc tế II ). Họ đi lên từ thể chế chính trị tư bản, từ nền Dân chủ tư sản – nên họ đã sớm đạt được khá nhiều thành công trong việc xây dụng một xã hội tiến bộ hơn như mọi người đã thấy.
 Có người nói: các đảng CS LX (cũ), Trung quốc và Việt Nam không chấp nhận coi các đảng XH dân chủ là cùng một gốc sinh ra từ Mác và Ănghen. Đó là sai lầm quan trọng do thiếu thông tin, như một định kiến và mang tính cố chấp, có thể chỉ ở thời Lênin, Stalin, và còn tồn tại ở một số đồng chí Việt nam “kiên trì” hiện nay. Nên thấy rằng, tại Châu Âu, chính con cháu ruột của Các Mác và Lênin cũng đã từ chối CN CS, và đã gác biện pháp cách mạng bạo  lực (QT I và QT III) của các Ông sang một bên, sự tự sụp đổ hoàn toàn dễ dàng của LX cũ và Đông Âu đã là bằng chứng hiển nhiên về sự tự từ bỏ CN Mác – Lê kiểu cũ.  Quan điểm “kiên trì” của một số đồng chí VN đã ngăn cản việc học tập và hợp tác công khai với các đảng CNXH dân chủ, trong khi trên thực tế lại thừa nhận sự tiến bộ xã hội rất rõ ràng của những nước phát triển do các đảng Xã hội dân chủ này lãnh đạo ! 
 Tóm lại, tôi nhận ra rằng, CNXH là một quá trình, một cái đích tiến hoá của Loài người đến một xã hội tốt đẹp hơn tất cả các xã hội hiện tồn trên Trái Đất. Sự sụp đổ của LX và Đông Âu, sự thất bại của “CNXH” hiện thực ở chỗ này hay chỗ khác, thì đó chỉ là sự thất bại của những mô hình cụ thể, của sự vận dụng những đường lối, lý luận sai lầm cụ thể trong quá trình tiến hoá đến CNXH đích thực mà thôi. CNXH đích thực không thể bị thất bại ! Nếu CNTB (không mang tên riêng ai) là kết quả quá trình tiến hoá tất yếu từ CN Phong kiến lạc hậu, thì CNXH (cũng không do một mình ai đặt ra) cũng là một quá trình tiến hoá đương nhiên tiếp theo, từ CNTB lên một xã hội tốt đẹp hơn, được đặc trưng bởi một nền chính trị văn minh –mà lâu nay ta vẫn gọi nó  là CNXH, hay phía tư bản gần đây họ gọi là CN hậu Tư bản (hay CNTB sáng tạo, CNTB Dân chủ . . .). Kết luận: Tuy CNXH đích thực chưa ở đâu có, nhưng nhất định sẽ xuất hiện! Thời đại này vẫn là Thời đại quá độ tiến hoá của toàn Thế giới tiến lên CNXH, có thể còn khó khăn, trầy trật, nhưng không gì có thể ngăn cản nổi !

 

Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 16 Tháng 5 2010 15:36 )
 
blog comments powered by Disqus

Số khách đang truy cập

Hiện có 10 khách Trực tuyến

Tìm kiếm

Đã có lượt truy cập